image banner


Chủ động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm từ thức ăn đường phố
Thức ăn đường phố ngày càng phong phú, tiện lợi, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát chặt chẽ các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, loại hình kinh doanh này tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn thực phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và trật tự an sinh xã hội

       

Thức ăn đường phố là thực phẩm được bán bởi người bán hàng rong, người bán thực phẩm lưu động tại các địa điểm công cộng hoặc được bán tại các sự kiện, lễ hội để sử dụng ngay hoặc sử dụng sau đó mà không cần chế biến hoặc chuẩn bị thêm. Cơ sở kinh doanh thức ăn lưu động là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh thức ăn đường phố trên xe bán thức ăn, xe đẩy hoặc các hình thức vận chuyển thực phẩm khác. Trong thời gian qua, cơ quan chức năng về an toàn thực phẩm các địa phương đã tích cực triển khai đồng bộ nhiều biện pháp để kiểm soát an toàn thực phẩm trên địa bàn đồng thời hướng dẫn các tổ chức, nhân sản xuất, chế biến kinh doanh thức ăn đường phố tuân thủ các quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Một số sở kinh doanh thức ăn đường phố như quán cơm, tiệm phở, nhà hàng, nhất là ở các khu du lịch, phố ẩm thực, ngày càng ngăn nắp hơn; bàn ghế, bát đũa, dụng cụ sạch sẽ; nhân viên chế biến, bếp ăn và phục vụ mang bảo hộ lao động, mũ trùm, khẩu trang đúng cách; khu tiếp nhận nguyên liệu, chế, chế biến thức ăn được sắp xếp, bố trí gọn gàng, hợp vệ sinh.

Tuy nhiên, một số cơ sở chế biến thực phẩm nhỏ lẻ, bán hàng rong bên hè phố, người bán thực phẩm hoạt động tại các điểm công cộng hoặc bày bán tại các sự kiện, lễ hội, do hạn chế về điều kiện trang thiết bị, dụng cụ; thiếu nước sạch; nơi rửa bát đũa không chỗ xả bỏ nước bẩn; việc thu gom rác thải không hợp vệ sinh; nhân viên chế biến, phục vụ không có bảo hộ lao động phù hợp, vệ sinh cá nhân không đáp ứng yêu cầu, không được tập huấn kiến thức; thường mua nguyên liệu giá rẻ, không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo an toàn; các sản phẩm sau chế biến như pa-tê, riêu cua, thịt nguội, thức ăn tồn dư… không được bảo quản đúng cách, để lưu cữu, quá hạn,… tiềm ẩn nhiều mối nguy, gây mất an toàn thực phẩm. Đó những thách thức cho công tác bảo đảm toàn thực phẩm trong cộng đồng. Cùng với những khoảng trống nhất định trong hoạt động quản lý, giám sát của quan chức năng, tại một số địa phương trong thời gian qua đã xảy ra một số vụ ngộ độc thức ăn đường phố tập thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng, gây dư luận bất an trong xã hội.

Thực hiện sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Thành Long tại Công văn số 11529/VPCP-KGVX ngày 25/11/2025 của Văn phòng Chính phủ về việc thực hiện các giải pháp phù hợp, đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản an toàn thực phẩm đối với các sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố và nhằm tăng cường bảo đảm an toàn thực phẩm, phòng ngừa ngộ độc thực phẩm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Bộ Y tế đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo UBND phường, xã, các cơ quan chức năng tập trung triển khai một số nội dung sau:

1. Cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố phải thực hiện các quy định về điều kiện an toàn thực phẩm.

Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 12 Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, sở kinh doanh thức ăn đường phố không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng, cụ thể như sau:

1.1. Đối với người trực tiếp kinh doanh thức ăn đường phố:

Thực hiện quy định tại khoản 6 Điều 32 Luật an toàn thực phẩm khoản 2 Điều 5 thuộc khoản 2 Điều 2 Nghị định 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ thì người kinh doanh thức ăn đường phố phải tuân thủ các nội dung sau:

- Người trực tiếp chế biến thức ăn phải được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm và được chủ cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố xác nhận;

- Người trực tiếp chế biến thức ăn không bị mắc các bệnh tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp khi đang sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

1.2. Đối với địa điểm kinh doanh thức ăn đường phố:

Thực hiện quy định tại Điều 31 Luật an toàn thực phẩm, sở kinh doanh thức ăn đường phố phải đảm bảo được các điều kiện sau:

- Phải cách biệt nguồn gây độc hại, nguồn gây ô nhiễm;

- Phải được bày bán trên bàn, giá, kệ, phương tiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, mỹ quan đường phố;

1.3. Đối với dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm:

Thực hiện quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 Điều 32 Luật an toàn thực phẩm, cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Dụng cụ ăn uống, chứa đựng thực phẩm phải bảo đảm an toàn vệ sinh;

- Bao gói các vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không được gây ô nhiễm và thôi nhiễm vào thực phẩm;

- Có dụng cụ che nắng, mưa, bụi bẩn, côn trùng động vật gây hại;

- đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ việc chế biến, kinh doanh.

1.4. Đối với nguyên liệu phụ gia thực phẩm:

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật an toàn thực phẩm, nguyên liệu để chế biến thức ăn đường phố phải bảo đảm an toàn thực phẩm, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng;

- Theo quy định tại Điều 33 Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của

Chính phủ thì phụ gia thực phẩm chỉ được sử dụng trong danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm do Bộ Y tế quy định. Trong trường hợp phụ gia thực phẩm không thuộc danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định; tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm phải đăng ký bản công bố sản phẩm tại Bộ Y tế theo quy định.

- Căn cứ khoản 1 Điều 35 Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018, sở kinh doanh thức ăn đường phố có trách nhiệm cung cấp các thông tin liên quan đến nơi cung cấp nguyên liệu, thực phẩm để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc thực phẩm khi xảy ra sự cố an toàn thực phẩm.

1.5. Khi xảy ra vi phạm về an toàn thực phẩm:

Cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố phải chấp hành các mức xử phạt quy định tại Điều 16 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/09/2018 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong kinh doanh thức ăn đường phố, được sửa đổi bổ sung tại khoản 7 Điều 1 Nghị định số 124/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2018/NĐ-CP ngày 04/09/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm và Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/09/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, cụ thể như sau:

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

+ Không có bàn, tủ, giá, kệ, thiết bị, dụng cụ đáp ứng theo quy định của pháp luật để bày bán thức ăn;

+ Thức ăn không được che đậy ngăn chặn bụi bẩn; có côn trùng, động vật gây hại xâm nhập;

+ Không sử dụng găng tay khi tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm chín, thức ăn

ngay.

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

+ Sử dụng dụng cụ chế biến, ăn uống, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;

+ Người trực tiếp chế biến thức ăn đang bị mắc bệnh: tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, E, viêm da nhiễm trùng, lao phổi, tiêu chảy cấp;

+ Sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn;

+ Sử dụng nước không bảo đảm iên ngành để chế biến thức ăn; để vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ phục vụ chế biến, ăn uống;

+ Vi phạm các quy định khác về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật trong kinh doanh thức ăn đường phố.

+ Buộc tiêu hủy thực phẩm đối với vi phạm sử dụng phụ gia thực phẩm được sang chia, san chiết không phù hợp quy định của pháp luật để chế biến thức ăn.

2. Trách nhiệm quản sở kinh doanh thức ăn đường phố:

- Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 Luật an toàn thực phẩm, Uỷ ban nhân dân các cấp trách nhiệm quản hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố trên địa bàn;

- Theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 4 Thông tư số 43/2025/TT-BYT ngày 15/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trạm y tế xã, phường, đặc khu thuộc các tỉnh, thành phố thì Trạm y tế xã có trách nhiệm:

+ Hướng dẫn, giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm đối với loại hình thức ăn đường phố;

+ Thực hiện các hoạt động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm, phối hợp điều trị, tăng cường giám sát, xử lý và khắc phục các sự cố an toàn thực phẩm và các vụ ngộ độc thực phẩm.

 

Nguyễn Thu - Chuyên viên phòng Văn hóa xã Lam Sơn

7

Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND xã Lam Sơn
Địa chỉ: UBND Xã Lam Sơn
Email: Phamdinhluc6872@gmail.com
Trưởng Ban biên tập: Phạm Đình Lực; Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã Lam Sơn
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Lam Sơn hoặc lamson.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT